Con dâu và con rể không thuộc hàng thừa kế nào của bố mẹ chồng, bố mẹ vợ, nên không được chia di sản theo pháp luật. Họ chỉ nhận được tài sản từ bố mẹ chồng hoặc bố mẹ vợ qua ba đường: di chúc, phần di sản của chính vợ hoặc chồng mình khi người này mất sau bố mẹ, hoặc đòi lại công sức, tiền bạc đã đóng góp vào tài sản.
Nhiều người con dâu sống với bố mẹ chồng hàng chục năm, chăm sóc lúc ốm đau, cùng làm nhà, đến khi chia đất mới biết mình không có tên. Cảm giác bất công là có thật. Bài này giải thích vì sao luật quy định như vậy, rồi đi vào từng đường mà con dâu, con rể vẫn có thể được nhận hoặc đòi lại, kèm những chỗ hay hiểu nhầm.
Vì sao con dâu, con rể không có trong hàng thừa kế
Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 xây dựng ba hàng thừa kế dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng với chính người mất: vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi ở hàng thứ nhất; ông bà, anh chị em ruột, cháu ruột ở hàng thứ hai; cụ nội, cụ ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì ruột, cùng cháu ruột và chắt ruột trong những quan hệ tương ứng ở hàng thứ ba. Con dâu, con rể có quan hệ với bố mẹ chồng, bố mẹ vợ thông qua hôn nhân của người con, không phải quan hệ hôn nhân hay huyết thống trực tiếp, nên không có tên.
Luật cũng không có điều khoản riêng như với con riêng và bố dượng, mẹ kế, tức không có ngoại lệ "chăm sóc nuôi dưỡng như cha mẹ con" cho con dâu, con rể. Dù người con dâu chăm bố chồng mười năm, nếu không có di chúc thì công chăm sóc đó không biến cô thành người thừa kế.
Điều này không có nghĩa con dâu, con rể luôn trắng tay. Trong rất nhiều gia đình, phần của người con trai hoặc con gái sẽ trở thành tài sản mà vợ chồng họ cùng dùng, và nếu người con mất trước hoặc sau bố mẹ thì con dâu, con rể có thể nhận một phần theo những con đường khác nhau. Phân biệt từng con đường là việc quan trọng nhất.
Con dâu, con rể nhận được gì trong từng tình huống
Các ví dụ giả định dưới đây xét trường hợp người con dâu, với chồng là con của người để lại di sản:
| Tình huống | Con dâu có nhận được gì? | Theo cơ chế nào |
|---|---|---|
| Bố mẹ chồng mất, chồng còn sống | Không trực tiếp; chồng nhận phần của mình | Phần chồng nhận thừa kế riêng là tài sản riêng của chồng, trừ khi chồng nhập vào tài sản chung |
| Chồng mất trước bố mẹ chồng, sau đó bố mẹ chồng mất | Không | Con của hai vợ chồng thế vị phần của chồng; con dâu không có phần |
| Bố mẹ chồng mất trước, chồng mất sau nhưng chưa chia di sản | Có, gián tiếp | Phần chồng lẽ ra được hưởng trở thành di sản của chồng; con dâu là vợ, đứng hàng thứ nhất của chồng |
| Bố mẹ chồng lập di chúc cho con dâu một phần | Có | Theo di chúc, trong phạm vi tài sản của bố mẹ chồng |
| Con dâu bỏ tiền xây nhà trên đất bố mẹ chồng | Có thể đòi giá trị | Đòi phần đóng góp như một nghĩa vụ tài sản, trước khi chia di sản |
Hai dòng thứ hai và thứ ba trông giống nhau nhưng kết quả ngược hẳn, chỉ vì thứ tự ai mất trước. Đây là chi tiết mà nhiều gia đình không để ý khi lập danh sách người ký văn bản khai nhận.
Phần chồng, vợ được thừa kế có phải tài sản chung không
Nguyên tắc: tài sản thừa kế riêng là tài sản riêng. Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của người đó. Vì vậy khi bố mẹ chồng mất, phần anh con trai được nhận không tự động trở thành tài sản chung của hai vợ chồng.
Ngoại lệ: được thừa kế chung hoặc đã nhập vào tài sản chung. Nếu di chúc ghi để lại cho cả hai vợ chồng, đó là tài sản chung. Nếu người chồng tự nguyện nhập phần thừa kế vào tài sản chung, ví dụ cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc bán đi rồi dùng tiền mua tài sản chung, thì phần đó trở thành tài sản chung.
Hệ quả khi ly hôn. Nếu sau này ly hôn, người con dâu thường không được chia phần đất chồng thừa kế riêng, nhưng có thể được tính công sức đóng góp vào việc duy trì, tôn tạo, làm tăng giá trị tài sản đó. Toà án xem xét chứng cứ cụ thể.
Hệ quả khi chồng mất. Nếu người chồng mất, phần thừa kế riêng của anh trở thành di sản của anh. Người vợ là người thừa kế hàng thứ nhất của chồng, cùng với các con và cha mẹ anh nếu còn sống, nên vẫn nhận một suất trong phần đó.
Con dâu, con rể góp tiền, góp công vào tài sản của bố mẹ
Đây là chỗ tranh chấp thường gặp nhất. Ví dụ giả định: vợ chồng anh Bình chị Mai bỏ tiền xây căn nhà hai tầng trên đất của bố mẹ anh Bình, sống ở đó với bố mẹ hai mươi năm. Bố mẹ anh mất không di chúc, các em anh đòi chia đều đất và nhà. Căn nhà và quyền sử dụng đất về giấy tờ có thể vẫn thuộc bố mẹ, nhưng số tiền vợ chồng anh Bình bỏ ra xây nhà là công sức đóng góp thật.
Trong cách giải quyết thường gặp, phần giá trị mà vợ chồng anh Bình đã đầu tư được xem như một khoản cần thanh toán hoặc tính trước khi chia, chứ không phải di sản để chia đều. Chị Mai, dù không phải người thừa kế, vẫn là đồng chủ của khoản đóng góp đó vì nó là tài sản chung của vợ chồng. Phần còn lại sau khi tính công sức mới chia cho các người thừa kế, trong đó anh Bình nhận một suất.
Để được tính, cần chứng cứ: giấy phép xây dựng hoặc hồ sơ xây dựng đứng tên ai, hợp đồng với thợ, chứng từ mua vật liệu, chứng từ vay tiền ngân hàng để xây, lời xác nhận của hàng xóm, thợ xây. Công sức chăm sóc bố mẹ già cũng có thể được các bên hoặc toà cân nhắc khi chia, nhưng khó định giá hơn nhiều so với tiền xây nhà.
Cũng nên nhìn từ phía các em anh Bình. Họ có quyền yêu cầu chứng minh khoản đóng góp, và nếu trong hai mươi năm đó vợ chồng anh Bình được ở miễn phí trên đất của bố mẹ, các em có thể đề nghị cân nhắc điều này. Một bảng tính minh bạch, có số liệu, thường là cách nhanh nhất để các bên gặp nhau ở giữa.
Con dâu, con rể xuất hiện ở đâu trong thủ tục khai nhận
Dù không phải người thừa kế của bố mẹ chồng, con dâu vẫn có thể phải có mặt ở phòng công chứng với một trong ba tư cách khác nhau, và nhầm tư cách là lý do hay khiến hồ sơ bị trả lại. Tư cách thứ nhất là người thừa kế của chính chồng mình: khi chồng mất sau bố mẹ chồng mà chưa chia, văn bản khai nhận phải liệt kê vợ và các con của anh như những người nhận phần của anh, gọi là thừa kế chuyển tiếp.
Tư cách thứ hai là người đại diện theo pháp luật cho con chưa thành niên. Khi chồng mất trước bố mẹ chồng, các cháu thế vị phần của bố; nếu các cháu còn nhỏ, người mẹ ký thay con. Người mẹ khi đó không ký cho bản thân, và việc định đoạt phần của con, ví dụ nhường cho chú bác đứng tên, bị giới hạn vì phải vì lợi ích của con.
Tư cách thứ ba thường bị hiểu nhầm: khi chồng còn sống và nhận thừa kế, nhiều người nghĩ vợ phải ký đồng ý. Theo nguyên tắc tài sản thừa kế riêng là tài sản riêng, người vợ không phải ký vào văn bản khai nhận của chồng. Chỉ khi vợ chồng muốn đứng tên chung, hoặc khi tài sản liên quan đến tài sản chung của họ, mới cần thêm văn bản có chữ ký của vợ. Hỏi trước công chứng viên về danh sách người phải ký giúp tránh đi lại nhiều lần.
Những hiểu nhầm phổ biến về quyền của con dâu, con rể
"Đã về làm dâu, nhập hộ khẩu nhà chồng là có phần." Đăng ký cư trú cùng nhà không tạo ra quyền thừa kế. Thông tin cư trú chỉ là chứng cứ về việc sống chung, có ích khi chứng minh công sức đóng góp, không thay được di chúc.
"Con rể ở rể thì được coi như con trai." Phong tục ở rể không có giá trị trong luật thừa kế. Con rể ở rể vẫn không thuộc hàng thừa kế của bố mẹ vợ, dù có thể có quyền đòi phần đóng góp nếu đã bỏ tiền, công sức vào tài sản.
"Con dâu trưởng đương nhiên giữ đất hương hoả." Việc ai quản lý phần di sản dùng vào thờ cúng do di chúc hoặc thoả thuận của những người thừa kế quyết định. Con dâu trưởng có thể được giao quản lý nếu cả nhà đồng ý, nhưng không đương nhiên có quyền.
"Chồng mất rồi thì con dâu hết quyền với nhà chồng." Không hẳn. Nếu chồng mất sau bố mẹ chồng mà chưa chia, con dâu vẫn có phần qua di sản của chồng. Nếu cô còn nuôi con nhỏ, cô là người đại diện cho phần thế vị của các con.
Cách để con dâu, con rể được nhận tài sản một cách chắc chắn
Nếu bố mẹ muốn để lại tài sản cho con dâu hoặc con rể, hoặc con dâu, con rể muốn bảo vệ phần đóng góp của mình, có thể làm theo thứ tự:
- Bố mẹ lập di chúc ghi rõ phần dành cho con dâu, con rể, nếu đó là ý muốn thật của họ. Di chúc công chứng giảm nghi ngờ về sự tự nguyện, nhất là khi con dâu, con rể là người đang chăm sóc bố mẹ hằng ngày.
- Hoặc bố mẹ tặng cho trực tiếp khi còn sống bằng hợp đồng tặng cho có công chứng, rồi đăng ký biến động sang tên.
- Khi vợ chồng con bỏ tiền xây nhà trên đất của bố mẹ, lập văn bản ghi nhận với bố mẹ và nếu được, có sự chứng kiến của anh chị em, về số tiền, mục đích và cách xử lý về sau.
- Giữ lại toàn bộ chứng từ về chi phí xây dựng, sửa chữa, vay nợ phục vụ tài sản.
- Khi chồng hoặc vợ được nhận thừa kế, nếu hai vợ chồng muốn coi đó là tài sản chung, lập văn bản thoả thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung và đăng ký đứng tên cả hai.
Những bước này tốt nhất làm khi cả nhà còn hoà thuận. Khi đã có tranh chấp, đặc biệt là có nhà đất lớn hoặc khoản đóng góp nhiều tiền, nên có luật sư để định giá và gom chứng cứ.
Câu hỏi thường gặp
Con dâu có được chia đất của bố mẹ chồng khi không có di chúc không?
Không. Con dâu không thuộc hàng thừa kế nào của bố mẹ chồng. Phần đất chia theo pháp luật thuộc về các con và những người thừa kế khác của bố mẹ chồng, trong đó có chồng của người con dâu.
Chồng mất trước bố mẹ chồng thì con dâu có được phần của chồng không?
Không. Khi chồng mất trước, các con của hai vợ chồng thế vị để nhận phần lẽ ra chồng được hưởng từ ông bà. Con dâu không có phần trong di sản của bố mẹ chồng trong trường hợp này.
Bố mẹ chồng mất trước, chồng mất sau thì sao?
Nếu chồng mất sau bố mẹ chồng, phần chồng được hưởng từ bố mẹ trở thành di sản của chồng. Con dâu là vợ nên đứng hàng thứ nhất của chồng và được chia một suất trong phần đó cùng các con và cha mẹ chồng còn sống.
Con dâu bỏ tiền xây nhà trên đất bố mẹ chồng có đòi lại được không?
Có thể đòi giá trị phần đóng góp nếu chứng minh được bằng chứng từ, hợp đồng xây dựng, lời người làm chứng. Phần này thường được tính trước, phần còn lại mới là di sản chia cho các người thừa kế.
Đất chồng được thừa kế có phải tài sản chung vợ chồng không?
Theo nguyên tắc là không, vì tài sản được thừa kế riêng là tài sản riêng của người được thừa kế. Chỉ thành tài sản chung khi được thừa kế chung cho cả hai hoặc người chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung.
Bố mẹ muốn cho con rể một phần tài sản thì làm thế nào?
Có thể lập di chúc ghi rõ phần dành cho con rể, hoặc tặng cho trực tiếp khi còn sống bằng hợp đồng tặng cho có công chứng rồi đăng ký sang tên. Di chúc vẫn phải tôn trọng phần bắt buộc của những người không phụ thuộc nội dung di chúc.