Con chưa thành niên là người thừa kế đầy đủ như người lớn. Khi khai nhận hoặc thoả thuận phân chia di sản, cha hoặc mẹ còn sống, hoặc người giám hộ, sẽ ký thay với tư cách người đại diện theo pháp luật; con từ đủ 15 tuổi thường cùng tham gia. Điều nhiều gia đình không ngờ: cha mẹ không thể tuỳ ý dùng tư cách đại diện để nhường phần của con cho người khác, nhất là cho chính mình, vì việc định đoạt tài sản của con phải vì lợi ích của con.
Tình huống này rất hay gặp. Người chồng mất trẻ, để lại vợ và hai con nhỏ; cả nhà nội muốn để người vợ đứng tên toàn bộ căn nhà cho gọn. Ra công chứng mới biết phần của hai đứa trẻ không thể cứ thế "dồn" cho mẹ. Bài giải thích vì sao, có những cách làm nào hợp pháp, và xử lý thế nào khi người thừa kế là người lớn nhưng đã mất khả năng nhận thức.
Con chưa thành niên được hưởng những gì
Khi không có di chúc, con chưa thành niên đứng ở hàng thừa kế thứ nhất, cùng với vợ hoặc chồng và cha mẹ của người mất, hưởng phần bằng nhau với những người khác cùng hàng. Tuổi nhỏ không làm phần ít đi. Ví dụ giả định: người cha mất, để lại vợ, hai con 6 tuổi và 10 tuổi, ông bà nội còn sống. Năm người ở hàng thứ nhất, mỗi người một phần năm di sản của người cha, sau khi đã tách phần tài sản chung của người vợ.
Khi có di chúc, con chưa thành niên được bảo vệ thêm một lớp. Bộ luật Dân sự 2015, Điều 644, quy định con chưa thành niên, cùng với cha, mẹ, vợ, chồng và con thành niên không có khả năng lao động, vẫn được hưởng ít nhất hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, dù di chúc không cho hoặc cho ít hơn. Trừ khi chính người đó từ chối hoặc thuộc trường hợp không được quyền hưởng.
Ngay cả người chưa sinh ra cũng có thể là người thừa kế: người đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống. Nếu người vợ đang mang thai lúc người chồng mất, gia đình nên chờ đứa trẻ ra đời rồi mới khai nhận, để tính đúng số người thừa kế. Khai nhận vội khi chưa sinh là văn bản thiếu người, có nguy cơ phải làm lại hoặc bị tranh chấp về sau.
Ai ký thay, ký cùng theo từng độ tuổi và tình trạng
Bảng dưới tóm tắt nguyên tắc chung theo luật dân sự và luật hôn nhân gia đình. Cách áp dụng cụ thể khi công chứng, nhất là với tài sản là nhà đất, bạn nên hỏi trực tiếp công chứng viên.
| Người thừa kế | Ai tham gia ký | Ghi chú thực tế |
|---|---|---|
| Con dưới 15 tuổi | Cha hoặc mẹ còn sống, hoặc người giám hộ, ký thay với tư cách người đại diện | Việc định đoạt tài sản của con phải vì lợi ích của con; luật yêu cầu xem xét nguyện vọng của con từ đủ 9 tuổi |
| Con từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi | Con tự ký, kèm sự đồng ý của người đại diện với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký | Công chứng viên thường yêu cầu cả con và người đại diện cùng có mặt |
| Con không còn cha mẹ | Người giám hộ theo luật hoặc được cử, chỉ định | Có thể cần người giám sát việc giám hộ đồng ý với giao dịch lớn |
| Người lớn mất năng lực hành vi dân sự | Người giám hộ, sau khi toà án đã tuyên bố mất năng lực | Chưa có quyết định của toà thì chưa có ai đủ tư cách ký thay |
| Người lớn có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi | Người giám hộ do toà án chỉ định, trong phạm vi toà án xác định | Phạm vi có thể hẹp hơn mất năng lực; đọc kỹ quyết định của toà |
Một chi tiết hay bị bỏ qua: nếu người cha hoặc mẹ còn sống cũng là người thừa kế, họ ký hai tư cách trong cùng một văn bản: tư cách bản thân và tư cách đại diện cho con. Chính hai tư cách này sinh ra vấn đề xung đột lợi ích ở mục dưới.
Vì sao cha mẹ khó nhường phần của con cho mình hay người khác
Luật dân sự đặt một nguyên tắc rõ: người đại diện không được xác lập, thực hiện giao dịch với chính mình. Khi người mẹ, nhân danh đứa con, tặng phần di sản của con cho chính bà, bà vừa là người cho vừa là người nhận. Luật hôn nhân và gia đình cũng yêu cầu cha mẹ quản lý, định đoạt tài sản riêng của con vì lợi ích của con. Vì vậy phần lớn công chứng viên không chứng nhận một văn bản trong đó phần của trẻ nhỏ bị cho đi, dù là cho mẹ, cho ông bà hay cho chú bác.
Tương tự với việc từ chối nhận di sản thay con. Từ chối là bỏ đi một quyền tài sản; khó chứng minh việc đó vì lợi ích của một đứa trẻ, trừ trường hợp đặc biệt như di sản chỉ toàn nợ. Công chứng viên có quyền và có trách nhiệm từ chối chứng nhận khi thấy giao dịch có dấu hiệu gây bất lợi cho người chưa thành niên.
Gia đình thường phản ứng: "Mẹ nuôi con thì tiền nào chẳng là tiền của con." Về tình cảm thì đúng, nhưng về pháp lý, phần của con là tài sản riêng của con. Luật bảo vệ nó chính vì không phải người mẹ nào cũng ở bên con mãi: người mẹ có thể tái hôn, có thể mất, có thể nợ nần. Phần tài sản đứng tên đứa trẻ là thứ duy nhất chắc chắn còn lại cho nó.
Những cách làm hợp pháp khi có trẻ nhỏ trong số người thừa kế
Để con đứng tên phần của con. Cách thẳng nhất là văn bản thoả thuận phân chia ghi rõ phần của từng đứa trẻ, rồi đăng ký cho các con cùng đứng tên trên giấy chứng nhận. Cha hoặc mẹ quản lý thay cho tới khi con đủ tuổi. Về sau muốn bán, thế chấp, thường phải chứng minh việc đó vì lợi ích của con, ví dụ bán để mua nơi ở khác cho cả nhà.
Khai nhận chung, cả mẹ và các con cùng đứng tên. Khi không cần tách thửa, cả nhà khai nhận chung căn nhà, mỗi người một phần. Cách này giữ nguyên căn nhà làm nơi ở và vẫn bảo vệ phần của trẻ. Nhược điểm là mọi giao dịch về sau đều cần các đồng sở hữu, mà đồng sở hữu là trẻ em thì việc ký càng phải thận trọng.
Chia bằng giá trị thay vì hiện vật. Có gia đình để người mẹ nhận toàn bộ căn nhà và thanh toán cho các con phần giá trị tương ứng, gửi vào tài khoản đứng tên con. Cách này phức tạp hơn và công chứng viên sẽ xem xét kỹ giá trị có tương xứng không. Nên hỏi trước khả năng được chấp nhận ở tổ chức công chứng nơi mình làm.
Chờ con đủ tuổi. Nếu không gấp, có thể giữ nguyên hiện trạng, người mẹ quản lý di sản, chờ các con đến tuổi tự quyết. Phải lưu ý thời hiệu yêu cầu chia di sản: 30 năm với bất động sản, 10 năm với động sản tính từ thời điểm mở thừa kế theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015. Chờ con trưởng thành thường vẫn nằm trong thời hạn đó với nhà đất.
Khi người thừa kế là người lớn nhưng đã mất khả năng nhận thức
Ví dụ giả định: bố mất, mẹ 85 tuổi mắc chứng sa sút trí tuệ nặng, không còn nhận ra con cháu. Mẹ là người thừa kế hàng thứ nhất. Các con muốn khai nhận nhưng mẹ không thể ký, và cũng không ai có quyền ký thay mẹ chỉ vì là con. Công chứng viên khi gặp sẽ kiểm tra khả năng nhận thức; nếu người đó không hiểu mình đang ký gì thì không chứng nhận, kể cả khi đến tận nhà.
Đường đi hợp pháp là yêu cầu toà án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự, hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, kèm kết luận giám định pháp y tâm thần. Sau quyết định của toà, người giám hộ hoặc người được toà chỉ định mới có tư cách ký thay, trong phạm vi luật cho phép và vì lợi ích của người được giám hộ. Thủ tục này mất thời gian, nên gia đình nên khởi động sớm khi thấy người thân có dấu hiệu suy giảm.
Một điều nên làm từ trước: khi bố mẹ còn minh mẫn, cả nhà bàn chuyện di chúc, uỷ quyền, sắp xếp tài sản. Văn bản uỷ quyền lập lúc minh mẫn thường chấm dứt hoặc khó dùng khi người uỷ quyền mất năng lực, nên không phải lời giải cho mọi việc. Việc lập di chúc, sắp xếp tài sản lúc còn khoẻ là chủ đề riêng trên trang này. Nếu gia đình đã ở vào tình huống trên, nên hỏi luật sư trên AI Cố Vấn về thủ tục yêu cầu toà án và giám hộ trước khi làm bất cứ giấy tờ gì.
Những việc nên tránh
Một số cách làm "cho nhanh" lại khiến văn bản thừa kế có nguy cơ bị huỷ, hoặc làm hại chính đứa trẻ. Gặp lời khuyên kiểu dưới đây, bạn nên dừng lại hỏi kỹ.
- Khai thiếu tên đứa trẻ trong danh sách người thừa kế, với lý do "con còn nhỏ, mẹ đứng tên thay". Đó là khai không trung thực, văn bản có thể bị tuyên vô hiệu khi đứa trẻ lớn lên và khởi kiện.
- Nhờ người khác đứng làm "người giám hộ" trên giấy trong khi không đúng thứ tự giám hộ theo luật hoặc chưa được cử, chỉ định hợp lệ.
- Để một người họ hàng ký thay cụ già đã lẫn mà không có quyết định của toà án.
- Ghi giá trị phần của trẻ thấp hơn thực tế trong phương án chia bằng tiền để "cho gọn".
- Bán ngay tài sản đứng tên trẻ sau khi khai nhận mà không có lý do vì lợi ích của trẻ; giao dịch đó có thể bị xem xét lại.
Những cách làm trên có điểm chung: chúng có vẻ giải quyết được việc trước mắt, nhưng để lại một văn bản yếu. Văn bản thừa kế bị huỷ sau mười năm, khi tài sản đã qua tay người khác, là chuyện khó gỡ hơn rất nhiều so với vài tháng chờ làm đúng thủ tục bây giờ.
Câu hỏi thường gặp
Mẹ có thể ký thay con 5 tuổi trong văn bản khai nhận di sản không?
Có. Người mẹ là người đại diện theo pháp luật của con dưới 15 tuổi và ký thay con trong văn bản khai nhận hoặc thoả thuận phân chia. Điều cần lưu ý là văn bản phải bảo đảm phần của con, không dùng tư cách đại diện để cho phần của con đi, kể cả cho chính người mẹ.
Con 16 tuổi có tự ký văn bản thừa kế được không?
Người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi có thể tự xác lập giao dịch, nhưng với bất động sản và tài sản phải đăng ký thì cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Trên thực tế công chứng viên thường yêu cầu cả con và cha hoặc mẹ cùng có mặt ký. Hỏi trước tổ chức công chứng để chuẩn bị đúng.
Ông bà nội có được làm giám hộ cho cháu để nhận thừa kế thay không?
Nếu cháu còn cha hoặc mẹ thì cha mẹ là người đại diện, ông bà không thay được. Khi cháu không còn cả cha lẫn mẹ hoặc cha mẹ không đủ điều kiện, ông bà có thể là người giám hộ theo thứ tự luật định hoặc được cử, chỉ định. Việc giám hộ phải được đăng ký và có thể có người giám sát.
Có thể để mẹ nhận cả căn nhà rồi viết giấy cam kết sau này cho con không?
Giấy cam kết kiểu đó có giá trị rất hạn chế và không thay được phần thừa kế của con. Công chứng viên cũng thường không chứng nhận văn bản làm mất phần của trẻ chỉ dựa vào một lời hứa. Cách an toàn hơn là để con đứng tên phần của mình, hoặc chia bằng giá trị gửi vào tài khoản đứng tên con.
Người thân bị lẫn chưa có quyết định của toà thì có ký được không?
Nếu công chứng viên thấy người đó không còn nhận thức được nội dung văn bản thì sẽ không chứng nhận. Gia đình cần yêu cầu toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, sau đó người giám hộ mới ký thay được trong phạm vi luật cho phép.
Vợ đang mang thai khi chồng mất thì có nên khai nhận ngay không?
Nên chờ đứa trẻ ra đời. Người đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống là người thừa kế. Khai nhận trước khi sinh có thể thiếu một người thừa kế, phải làm lại hoặc dẫn tới tranh chấp về sau, nhất là khi gia đình bên chồng và người vợ không thống nhất.