Pháp luật Việt Nam không có chế định "ly thân": chừng nào bản án hoặc quyết định cho ly hôn chưa có hiệu lực pháp luật, hai người vẫn là vợ chồng, và khi một người mất thì người kia vẫn đứng ở hàng thừa kế thứ nhất. Điều 655 Bộ luật Dân sự 2015 nói rõ cả ba ca hay gây tranh cãi: vợ chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn, hoặc người còn lại sau đó đã tái hôn.
Tình huống này gây nhiều đau lòng: người chồng bỏ nhà đi sống với người khác mười năm, đến khi ông mất, người vợ hợp pháp và người phụ nữ sống cùng ông đều cho mình có quyền với căn nhà; hay người vợ đang theo kiện ly hôn thì chồng mất vì tai nạn, gia đình chồng cho rằng cô không còn là con dâu. Bài này đi qua từng ca theo câu chữ của luật và nói tới cả phía còn lại của mỗi câu chuyện.
Ly thân trong đời sống và trong luật
Trong đời sống, ly thân là khi vợ chồng không còn sống chung, mỗi người một nơi, có khi đã có người khác, nhưng chưa ai ra toà. Có cặp ly thân vài tháng để suy nghĩ, có cặp ly thân hai mươi năm. Dù kéo dài bao lâu, về mặt pháp lý quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại vì luật chỉ chấm dứt hôn nhân bằng hai con đường: một bên chết (hoặc bị toà tuyên bố là đã chết) và ly hôn bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của toà án.
Hệ quả trực tiếp với thừa kế: người vợ hoặc chồng đang ly thân vẫn là vợ, chồng của người mất, được hưởng như người vợ, chồng đang sống chung. Không có quy định nào trừ bớt phần vì "đã bỏ đi", "không chăm sóc", "đã có người khác". Muốn tước quyền thừa kế của họ, phải rơi vào các trường hợp không được quyền hưởng di sản luật liệt kê, hoặc người mất đã lập di chúc truất quyền, và kể cả khi truất quyền thì vợ, chồng vẫn có phần tối thiểu nếu thuộc diện không phụ thuộc nội dung di chúc.
Điều này khiến nhiều người bất ngờ, nhất là khi người sống cùng người mất những năm cuối đời là một người khác. Nhưng đó là cách luật bảo vệ sự rõ ràng: quan hệ vợ chồng chỉ chấm dứt bằng một thủ tục có ghi nhận, không chấm dứt bằng việc dọn đi.
Các tình huống và câu trả lời của Điều 655
Điều 655 Bộ luật Dân sự 2015 gói ba ca vào một điều. Bảng dưới đặt chúng cạnh nhau, kèm các ca liên quan hay bị hỏi cùng:
| Tình huống khi một người mất | Người còn lại có được thừa kế với tư cách vợ, chồng? | Ghi chú |
|---|---|---|
| Vợ chồng ly thân, không ai nộp đơn ly hôn | Có | Hôn nhân vẫn tồn tại |
| Vợ chồng đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân | Có | Chia tài sản không chấm dứt hôn nhân; di sản chỉ gồm phần tài sản riêng của người mất |
| Đã nộp đơn ly hôn, toà chưa giải quyết | Có | Vụ ly hôn thường bị đình chỉ vì một bên đã chết |
| Toà đã xử cho ly hôn nhưng bản án, quyết định chưa có hiệu lực | Có | Ví dụ đang trong thời hạn kháng cáo hoặc đang có kháng cáo |
| Bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực | Không | Hai người không còn là vợ chồng |
| Người còn lại sau đó tái hôn với người khác | Có | Tư cách được xét tại thời điểm người kia mất |
| Người còn lại là "vợ hai" kết hôn khi người mất đang có vợ hợp pháp | Thường là không | Kết hôn trái pháp luật không làm phát sinh quan hệ vợ chồng hợp pháp |
Điểm cần nhớ: mốc quyết định là bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, không phải ngày nộp đơn hay ngày toà tuyên án. Nếu người mất qua đời trong khoảng giữa hai thời điểm đó, người còn lại vẫn là vợ, chồng.
Vợ chồng đã chia tài sản chung thì di sản tính thế nào
Chia tài sản chung không phải ly hôn. Luật Hôn nhân và gia đình cho phép vợ chồng thoả thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, thường để mỗi người tự làm ăn hoặc tránh rủi ro kinh doanh của người kia. Sau khi chia, phần mỗi người nhận là tài sản riêng của người đó, nhưng hai người vẫn là vợ chồng.
Di sản chỉ gồm tài sản riêng của người mất. Khi một người mất, di sản gồm phần tài sản riêng của họ, trong đó có phần đã nhận khi chia tài sản chung, cộng với phần của họ trong khối tài sản chung còn lại (nếu chưa chia hết). Người còn lại không có quyền đòi một nửa những gì đã chia cho người mất, vì đó không còn là tài sản chung.
Nhưng người còn lại vẫn là người thừa kế. Trên khối di sản đó, người vợ hoặc chồng còn sống vẫn được chia một suất ngang các con và cha mẹ của người mất khi chia theo pháp luật. Nói cách khác, việc chia tài sản chỉ làm thay đổi khối di sản, không làm mất tư cách người thừa kế.
Thu nhập phát sinh sau khi chia. Theo nguyên tắc, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đã chia là tài sản riêng của người đó, trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác. Nên giữ văn bản thoả thuận chia tài sản và giấy tờ liên quan vì đây là căn cứ để xác định đâu là di sản sau này.
Khi người sống cùng người mất là một người khác
Ví dụ giả định: ông Sơn bỏ nhà đi năm 2010, sống cùng bà Thu ở tỉnh khác, không ly hôn vợ là bà Lan. Năm 2025 ông mất. Theo luật, bà Lan vẫn là vợ hợp pháp, đứng hàng thứ nhất cùng các con của ông. Bà Thu không phải vợ hợp pháp vì ông đang có hôn nhân với bà Lan, nên bà Thu không phải người thừa kế theo pháp luật.
Tuy vậy, bà Thu có thể có quyền với một phần tài sản nếu hai người cùng tạo ra, ví dụ cùng góp tiền mua căn nhà đứng tên ông ở nơi họ sống. Phần đóng góp đó thuộc sở hữu của bà Thu, phải tách ra trước, phần còn lại mới là di sản của ông. Ngược lại, tài sản ông có được trong thời kỳ hôn nhân với bà Lan, kể cả những năm ly thân, về nguyên tắc vẫn có thể là tài sản chung của ông và bà Lan nếu không chứng minh được là tài sản riêng. Ranh giới giữa các khối tài sản này thường là chỗ tranh chấp gay gắt nhất.
Con của ông với bà Thu, nếu có, là con đẻ của ông và được hưởng ngang các con với bà Lan. Nếu ông có lập di chúc để lại tài sản cho bà Thu thì di chúc đó có hiệu lực trong phạm vi phần tài sản của ông, nhưng bà Lan và những người không phụ thuộc nội dung di chúc vẫn được giữ phần tối thiểu.
Đây là loại tình huống mà cảm xúc dễ lấn át lý lẽ, cả hai người phụ nữ đều có lý do để thấy mình bị đối xử bất công. Một buổi hoà giải có người làm nghề ngồi giữa, giải thích rõ quyền của từng người, thường giúp các bên chấp nhận một phương án mà không phải kéo dài nhiều năm tại toà. Bạn có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để được phân tích riêng trường hợp của gia đình mình.
Giấy tờ người vợ, chồng đang ly thân cần chuẩn bị
Khi khai nhận di sản trong hoàn cảnh ly thân, người còn lại thường bị gia đình bên kia nghi ngờ tư cách. Chuẩn bị sẵn những giấy tờ sau giúp thủ tục ít va chạm hơn:
- Giấy chứng nhận kết hôn bản chính hoặc trích lục kết hôn; nếu mất, xin cấp bản sao trích lục tại cơ quan đăng ký hộ tịch hiện hành nơi đã đăng ký.
- Văn bản xác nhận của toà án về việc chưa có bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực, nếu trước đó từng nộp đơn; hoặc quyết định đình chỉ vụ án ly hôn do một bên đã chết.
- Trích lục khai tử của người mất.
- Văn bản thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nếu có, để xác định khối di sản.
- Giấy tờ về các tài sản đứng tên người mất, kể cả tài sản tạo ra trong những năm ly thân.
- Giấy tờ tuỳ thân và giấy tờ chứng minh quan hệ của các người thừa kế khác, vì văn bản khai nhận cần đủ mặt người thừa kế.
Nếu gia đình người mất không chịu cùng ký văn bản khai nhận, người vợ hoặc chồng có thể yêu cầu toà chia di sản. Khi đó tư cách người thừa kế được toà xác định dựa trên giấy chứng nhận kết hôn và việc chưa có bản án ly hôn có hiệu lực, chứ không dựa vào việc ai đã sống cùng ai.
Người còn lại tái hôn sau khi người kia mất
Câu cuối của Điều 655 giải quyết dứt khoát một tranh luận phổ biến: người đang là vợ hoặc chồng của người mất vào thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản. Nhiều gia đình nhà chồng cho rằng con dâu đã đi bước nữa thì "không còn là người nhà", nên không có phần trong căn nhà của người con trai đã mất. Cách hiểu đó không đúng với luật.
Tư cách người thừa kế được xác định tại thời điểm mở thừa kế, tức ngày người mất qua đời. Việc chưa chia di sản, để năm năm sau mới làm thủ tục, không thay đổi điều đó. Người vợ đã tái hôn vẫn ký văn bản khai nhận với tư cách vợ của người đã mất, còn người chồng mới của cô không có quyền gì với phần di sản này, trừ khi cô tự nguyện nhập vào tài sản chung của cuộc hôn nhân mới.
Ở chiều ngược lại, gia đình nhà chồng có lo lắng chính đáng về việc tài sản của dòng họ "đi sang nhà khác". Cách giải quyết hợp pháp là trao đổi để người vợ cân nhắc nhường phần cho con chung hoặc thoả thuận phương án phân chia, hoặc người chồng khi còn sống lập di chúc. Gây áp lực buộc người vợ từ chối nhận di sản không phải lối đi đúng, và văn bản ký trong sự ép buộc có thể bị yêu cầu tuyên vô hiệu.
Câu hỏi thường gặp
Vợ chồng ly thân lâu năm thì người còn lại có được thừa kế không?
Có. Luật không có chế định ly thân, nên chừng nào chưa có bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, hai người vẫn là vợ chồng và người còn sống đứng ở hàng thừa kế thứ nhất của người mất.
Đang kiện ly hôn thì chồng mất, vợ có được chia di sản không?
Có. Theo Điều 655 Bộ luật Dân sự 2015, vợ chồng xin ly hôn mà chưa được toà cho ly hôn, hoặc đã có bản án nhưng chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế.
Vợ đã tái hôn có còn được hưởng di sản của chồng trước không?
Có, nếu cô là vợ của người đó vào thời điểm người đó mất. Việc sau đó kết hôn với người khác không làm mất quyền thừa kế, dù di sản được chia ngay hay nhiều năm sau.
Người phụ nữ sống chung với người đàn ông đang có vợ có được thừa kế không?
Không với tư cách vợ, vì quan hệ đó không phải hôn nhân hợp pháp. Người đó chỉ được hưởng nếu có di chúc, và có thể yêu cầu tách phần tài sản mình đã cùng góp tạo ra trước khi chia di sản.
Vợ chồng đã chia tài sản chung thì người còn lại còn được thừa kế không?
Vẫn được. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không chấm dứt hôn nhân. Di sản chỉ gồm tài sản riêng của người mất, nhưng người còn lại vẫn được chia một suất trên khối di sản đó.
Muốn chồng ly thân không được hưởng tài sản của mình thì làm thế nào?
Có thể lập di chúc định đoạt tài sản cho người khác, nhưng người chồng vẫn được phần tối thiểu nếu thuộc diện không phụ thuộc nội dung di chúc. Cách dứt khoát hơn là giải quyết ly hôn bằng bản án, quyết định có hiệu lực.