ThuaKe.comThừa Kế
Thừa kế có người ở nước ngoài

Chồng hoặc vợ người nước ngoài qua đời: tài sản ở Việt Nam chia thừa kế thế nào

Chồng người nước ngoài mất, nhà ở Việt Nam đứng tên vợ, con có hai quốc tịch, gia đình bên chồng ở nước ngoài. Bài chỉ cách tách tài sản chung, xác định người thừa kế.

A Vietnamese woman and a mixed-heritage teenage boy seen from behind on the balcony of a townhouse in Nha Trang, looking toward the sea, late afternoon golden light

Khi người chồng hoặc vợ mang quốc tịch nước ngoài qua đời, tài sản ở Việt Nam được xử lý theo hai bước: tách phần tài sản chung của hai vợ chồng để xác định phần của người mất, rồi chia phần đó cho những người thừa kế. Nhà đất ở Việt Nam đi theo pháp luật Việt Nam; các tài sản khác về nguyên tắc theo pháp luật của nước người mất mang quốc tịch ngay trước khi chết. Những người thừa kế có thể gồm người vợ hoặc chồng Việt, các con, và cả cha mẹ, con riêng của người mất đang sống ở nước ngoài.

Đây là tình huống mà người vợ hoặc chồng còn lại thường nghĩ đơn giản: nhà đứng tên mình thì là của mình. Thực tế không hẳn vậy. Nếu căn nhà mua trong thời kỳ hôn nhân, nó có thể là tài sản chung dù chỉ đứng tên một người, và phần của người mất phải chia cho cả những người thân bên kia. Bài đi qua các bước, các giấy tờ cần có, và những ca thường gây căng thẳng giữa hai gia đình.

Bước một: xác nhận hôn nhân hợp pháp ở Việt Nam

Quyền thừa kế của người vợ hoặc chồng còn sống dựa trên quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nếu hai người đăng ký kết hôn ở Việt Nam, giấy chứng nhận kết hôn Việt Nam là đủ. Nếu kết hôn ở nước ngoài, công dân Việt Nam nên đã ghi việc kết hôn đó vào sổ hộ tịch Việt Nam; chưa ghi thì nên làm trước khi lập văn bản thừa kế, vì tổ chức công chứng thường yêu cầu.

Có những cặp chung sống nhiều năm, có con, nhưng chưa từng đăng ký kết hôn ở bất kỳ đâu. Theo pháp luật Việt Nam, trừ một số trường hợp chuyển tiếp cũ, chung sống không đăng ký thì không phát sinh quyền thừa kế giữa hai người như vợ chồng. Con chung vẫn là người thừa kế của cha hoặc mẹ, nếu quan hệ cha con, mẹ con được xác định. Người còn lại muốn được hưởng thì chỉ có thể dựa vào di chúc, hoặc chứng minh phần đóng góp của mình vào tài sản để đòi lại phần đó, không phải đòi thừa kế.

Cũng cần kiểm tra người mất có cuộc hôn nhân trước ở nước ngoài đã chấm dứt hợp lệ chưa. Nếu ly hôn ở nước ngoài mà giấy tờ không rõ, người vợ hoặc chồng trước có thể xuất hiện đòi quyền. Gom giấy ly hôn hoặc bản án ly hôn của người mất từ sớm.

Bước hai: tách phần tài sản chung của vợ chồng

Tài sản mua trong thời kỳ hôn nhân thường là tài sản chung. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, trừ khi chứng minh được là tài sản riêng hoặc vợ chồng đã thoả thuận chế độ tài sản khác. Căn nhà đứng tên người vợ Việt vì người chồng nước ngoài không được đứng tên quyền sử dụng đất vẫn có thể là tài sản chung về bản chất.

Có thoả thuận tài sản trước hôn nhân thì theo thoả thuận. Một số cặp ký thoả thuận về chế độ tài sản trước khi kết hôn, ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài. Thoả thuận hợp lệ sẽ quyết định tài sản nào của ai. Nếu thoả thuận ký ở nước ngoài, cần hợp pháp hoá và dịch, và việc áp dụng nó cho bất động sản ở Việt Nam phải xem xét theo pháp luật Việt Nam.

Phần của người mất thường là một nửa giá trị tài sản chung. Khi không có thoả thuận khác, tài sản chung được chia đôi; một nửa là của người còn sống, không phải di sản. Nửa kia là di sản để chia thừa kế. Với nhà đất, việc này thường thể hiện ngay trong văn bản thừa kế tại công chứng.

Tài sản riêng của người mất là di sản toàn bộ. Tài sản người mất có trước khi kết hôn, được tặng cho riêng, thừa kế riêng, như tài khoản ở nước họ, là di sản toàn bộ của họ. Phần lớn tài sản loại này nằm ở nước ngoài và làm theo thủ tục nước đó.

Ai có thể là người thừa kế: ví dụ giả định

Ông Mark, quốc tịch Anh, mất tại Hội An. Ông kết hôn với bà Ngọc tại Việt Nam, có một con chung 15 tuổi mang hai quốc tịch. Ông có một con riêng đã trưởng thành ở Anh, mẹ ông còn sống ở Anh. Không có di chúc. Bảng dưới xét riêng phần di sản là bất động sản ở Việt Nam, áp dụng pháp luật Việt Nam.

NgườiQuan hệ với người mấtCó ở hàng thừa kế thứ nhất theo luật Việt NamĐứng tên nhà đất được không
Bà NgọcVợ hợp phápCóĐược, là công dân Việt Nam
Con chung 15 tuổiConCóĐược nếu có quốc tịch Việt Nam; cần người đại diện theo pháp luật ký thay
Con riêng ở AnhConCóThường không, nếu không có quốc tịch Việt Nam hay gốc Việt; nhận giá trị
Mẹ ông MarkMẹCóKhông; nhận giá trị

Theo ví dụ, phần di sản của ông Mark trong căn nhà chia đều cho bốn người. Hai người ở Anh không đứng tên được thì nhận giá trị, qua thoả thuận để bà Ngọc nhận và trả tiền, hoặc qua chuyển nhượng. Với phần tài sản không phải bất động sản, như tiền gửi của ông Mark ở Việt Nam, việc ai được hưởng về nguyên tắc xét theo pháp luật Anh, nên kết quả có thể khác.

Giấy tờ thường cần trong hồ sơ

Ngoài giấy tờ thông thường của một hồ sơ thừa kế, ca có người mất mang quốc tịch nước ngoài cần thêm các giấy dưới đây. Giấy do nước ngoài cấp cần hợp pháp hoá và dịch, trừ khi được miễn.

  • Trích lục khai tử nếu người mất qua đời tại Việt Nam, đăng ký tại cơ quan hộ tịch nơi người đó mất theo quy định; hoặc giấy chứng tử nước ngoài nếu mất ở nước ngoài.
  • Hộ chiếu của người mất, giấy tờ cư trú tại Việt Nam như thẻ tạm trú, thẻ thường trú.
  • Giấy chứng nhận kết hôn, và giấy ly hôn của các cuộc hôn nhân trước nếu có.
  • Giấy khai sinh của các con, kể cả con riêng ở nước ngoài, và giấy tờ chứng minh cha mẹ của người mất còn sống hay đã mất.
  • Thoả thuận về chế độ tài sản vợ chồng nếu có; di chúc nếu có, kể cả di chúc lập ở nước ngoài.
  • Giấy tờ về nguồn tiền mua tài sản nếu cần chứng minh tài sản riêng của một bên.

Gia đình nên báo cho cơ quan đại diện của nước người mất mang quốc tịch tại Việt Nam. Họ thường hỗ trợ thủ tục liên quan đến công dân của mình, cấp một số giấy tờ, và có thể liên lạc với gia đình bên kia.

Khi gia đình bên kia ở xa hoặc không hợp tác

Khó khăn lớn nhất của loại hồ sơ này thường không nằm ở luật, mà ở chỗ phải có chữ ký hoặc ý kiến của những người thừa kế ở nước ngoài, những người có khi chưa từng gặp người vợ hoặc chồng Việt. Văn bản thừa kế tại công chứng cần đủ những người thừa kế. Nếu con riêng hoặc cha mẹ của người mất không trả lời, gia đình không thể tự lập văn bản bỏ qua họ.

Cách tiếp cận thường hiệu quả: viết thư rõ ràng, có bản dịch, giải thích di sản ở Việt Nam gồm gì, phần của họ là bao nhiêu theo luật, và các lựa chọn của họ: nhận giá trị, từ chối, hay tặng cho. Kèm thông tin về cách ký giấy tờ ở nước họ. Nhiều người thân ở nước ngoài sẵn lòng hợp tác khi hiểu rõ và không bị yêu cầu làm điều gì phức tạp.

Nếu vẫn không liên lạc được hoặc họ không đồng ý cách chia, con đường còn lại là yêu cầu toà án chia di sản. Toà án Việt Nam có thẩm quyền với tranh chấp về bất động sản ở Việt Nam. Thủ tục có yếu tố nước ngoài kéo dài vì phải tống đạt giấy tờ qua đường tương trợ tư pháp. Ca này nên có luật sư; có thể hỏi luật sư trên AI Cố Vấn để được định hướng trước.

Tiền gửi, xe và phần vốn của người mất ở Việt Nam

Ngoài nhà đất, người nước ngoài sống lâu ở Việt Nam thường có tài khoản ngân hàng, xe đứng tên mình, có khi phần vốn góp trong một công ty. Đây là động sản, nên về nguyên tắc việc ai được hưởng xét theo pháp luật nước người mất mang quốc tịch, trừ khi điều ước quốc tế quy định khác. Trên thực tế, ngân hàng hay cơ quan đăng ký xe ở Việt Nam vẫn làm thủ tục theo giấy tờ Việt Nam, nhưng văn bản thừa kế làm căn cứ có thể cần thêm phần xác định người thừa kế theo luật nước ngoài.

Với phần vốn góp hoặc cổ phần trong công ty ở Việt Nam, ngoài luật thừa kế còn phải xem điều lệ công ty và quy định về nhà đầu tư nước ngoài. Người thừa kế mang quốc tịch nước ngoài có thể trở thành thành viên, cổ đông nếu đáp ứng điều kiện; nếu không, phần vốn có thể được mua lại hoặc chuyển nhượng. Việc này nên hỏi công ty và người làm nghề trước khi lập văn bản thừa kế, để các tài sản khác không phải chờ theo.

Người con chưa thành niên mang hai quốc tịch

Con chung chưa thành niên là người thừa kế ở hàng thứ nhất. Khi ký văn bản thừa kế, người đại diện theo pháp luật của con, thường là người cha hoặc mẹ còn sống, ký thay. Nhưng nếu chính người đại diện cũng là một người thừa kế trong cùng văn bản, có thể có xung đột lợi ích, và tổ chức công chứng sẽ xem xét kỹ để phần của con không bị thiệt.

Nếu con có quốc tịch Việt Nam, con có thể đứng tên phần nhà đất được chia. Nhiều gia đình chọn để phần của con đứng tên con, người đại diện quản lý đến khi con thành niên. Nếu muốn dồn phần của con về cho người mẹ hoặc cha để dễ quản lý, cần cân nhắc vì pháp luật hạn chế việc định đoạt tài sản của con chưa thành niên khi không vì lợi ích của con.

Bài riêng trên trang này về khai nhận có người thừa kế chưa thành niên đi sâu chuyện người đại diện và giới hạn của họ; ở đây chỉ nhắc rằng con mang hai quốc tịch vẫn được đối xử như công dân Việt Nam trong các quan hệ ở Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Nhà đứng tên vợ Việt, chồng nước ngoài không có tên trên sổ thì khi chồng mất có phải chia không?

Có thể phải chia. Nếu nhà được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và không chứng minh được là tài sản riêng của vợ, nó là tài sản chung; một nửa giá trị là di sản của người chồng, chia cho những người thừa kế của ông, kể cả người ở nước ngoài.

Người nước ngoài chết ở Việt Nam thì đăng ký khai tử ở đâu?

Việc khai tử cho người nước ngoài chết tại Việt Nam được đăng ký tại cơ quan đăng ký hộ tịch theo phân cấp hiện hành sau khi sắp xếp chính quyền hai cấp. Hỏi bộ phận một cửa nơi người đó mất hoặc cư trú, và báo cho cơ quan đại diện nước họ.

Cha mẹ của người chồng nước ngoài có được hưởng thừa kế nhà ở Việt Nam không?

Theo pháp luật Việt Nam, cha mẹ của người mất cùng ở hàng thừa kế thứ nhất với vợ và con. Họ có phần trong di sản là bất động sản ở Việt Nam, nhưng không đứng tên được nên nhận giá trị.

Chung sống không đăng ký kết hôn với người nước ngoài thì người còn lại có được gì?

Không được hưởng thừa kế với tư cách vợ hoặc chồng, trừ trường hợp có di chúc. Người đó có thể chứng minh phần đóng góp vào tài sản chung để đòi lại phần của mình. Con chung vẫn là người thừa kế.

Có thể làm thủ tục thừa kế tại Việt Nam khi gia đình bên chồng chưa đồng ý không?

Văn bản thừa kế tại công chứng cần đủ người thừa kế. Nếu có người không đồng ý hoặc không liên lạc được, gia đình có thể yêu cầu toà án chia di sản. Nên thử thương lượng trước, vì thủ tục toà có yếu tố nước ngoài kéo dài.

Di chúc của người chồng lập ở nước ngoài để hết cho vợ có được dùng ở Việt Nam không?

Có thể, nếu di chúc hợp pháp về hình thức theo một trong các pháp luật được công nhận và được hợp pháp hoá, dịch. Với nhà đất ở Việt Nam, cha mẹ và con chưa thành niên của người mất vẫn có phần bắt buộc theo pháp luật Việt Nam.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.